Lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng tiếp tục xu hướng đi lên trong tháng 3/2026, kéo theo áp lực tăng lãi suất cho vay tại một số nhà băng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đà tăng của lãi vay có thể diễn ra chậm và không đồng loạt.
Lãi suất tiền gửi lên tới 8,4%/năm
MB vừa tăng lãi suất huy động lần thứ hai trong tháng, tập trung ở các kỳ hạn dài. Theo biểu mới, lãi suất kỳ hạn 12 – 18 tháng lên 6,55%/năm, trong khi kỳ hạn 24 – 48 tháng vượt 7% và đạt tối đa 7,5%/năm; mức này cũng áp dụng cho gửi tại quầy kỳ hạn 24-60 tháng. Các kỳ hạn ngắn giữ ổn định quanh 4,5 – 5,9%/năm.
Tương tự, Techcombank điều chỉnh tăng lãi suất, với kỳ hạn dưới 6 tháng tăng khoảng 0,2%/năm, còn kỳ hạn 6-36 tháng tăng khoảng 0,6%/năm, lên tối đa 6,35%/năm; lãi suất thực nhận có thể tới 7,5%/năm khi cộng ưu đãi.

Nhiều ngân hàng cũng đẩy mạnh khuyến mại để hút vốn. Tại một chi nhánh của GPBank ở Hà Nội, lãi suất ngắn hạn lên tới 8,4%/năm. Trong khi đó, ngân hàng số Cake by VPBank cộng thêm tới 0,9%/năm cho khách hàng mới, đưa lãi suất thực nhận lên mức tương đương.
Từ đầu tháng 3, ít nhất 7 ngân hàng đã tăng lãi suất huy động, gồm VPBank, Sacombank, VietBank, MB, SHB, NCB và Techcombank.
Mặt bằng lãi suất hiện phân hóa theo kỳ hạn: nhóm 1-3 tháng phổ biến 3-4,75%/năm, trong đó BIDV và VietinBank duy trì mức thấp hơn. Ở kỳ hạn 6-9 tháng, cạnh tranh mạnh với nhiều ngân hàng niêm yết trên 6%, thậm chí vượt 7% như Techcombank hay PGBank.
Với kỳ hạn 12-18 tháng, lãi suất phổ biến 6-7%/năm, một số ngân hàng như MBV và PGBank niêm yết khoảng 7,2%/năm, còn LPBank duy trì trên 7%/năm.
Phân hóa lãi suất cho vay: Ai tăng, ai giảm
Không chỉ lãi suất đầu vào, lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng cũng bắt đầu có dấu hiệu tăng trong thời gian gần đây, dù mức độ chưa đồng đều giữa các tổ chức tín dụng.
Tính đến thời điểm này, 25 ngân hàng thương mại trong nước đã công bố lãi suất cho vay bình quân của tháng 2/2026.
| NGÂN HÀNG | LSCV BÌNH QUÂN | +/- SO VỚI THÁNG 1 | CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT CHO VAY -HUY ĐỘNG BÌNH QUÂN |
| ACB | 8.19 | 0.52 | 2.57 |
| AGRIBANK | 8.04 | 0.7 | 1.08 |
| BAC A BANK | 9.83 | 0.67 | 3.27 |
| BAOVIETBANK | 7.27 | -0.14 | 3.34 |
| BIDV | 6.14 | 0.39 | 1.57 |
| BVBANK | 11.28 | 1.67 | 5.13 |
| EXIMBANK | 7.29 | 0.13 | 1.37 |
| GPBANK | 7.98 | -0.47 | 0.98 |
| KIENLONGBANK | 8.7 | 0.09 | 2.39 |
| LPBANK | 8.59 | 0 | 3.07 |
| MB | 7.29 | 2.75 | |
| MBV | 6.78 | -1.07 | 1.88 |
| NAM A BANK | 7.41 | 1.71 | |
| OCB | 9.6 | 0.39 | 3.96 |
| PGBANK | 7.06 | -0.33 | 0.92 |
| PVCOMBANK | 9.15 | 0.44 | 2.38 |
| SAIGONBANK | 8.5 | 0 | 3.2 |
| SCB | 5.4 | 0 | 3.03 |
| TECHCOMBANK | 9.45 | 1.84 | 4.34 |
| TPBANK | 9.13 | -0.23 | |
| VIB | 8.11 | 2.47 | |
| VIET A BANK | 8.91 | 0.16 | 1.65 |
| VIETINBANK | 5.95 | -0.12 | 2.26 |
| VIKKI BANK | 7.97 | 0.47 | 1.78 |
Trong số các ngân hàng tăng lãi suất, Techcombank và BVBank ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lần lượt tăng 1,84% và 1,67%/năm so với tháng 1/2026.
Một số ngân hàng khác như Bac A Bank, OCB, PVcombank, Viet A Bank, KienlongBank, ACB, Agribank, BIDV, Vikki Bank và Eximbank cũng ghi nhận mức tăng từ 0,1-0,7%/năm.
Ngược lại, một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay bình quân như VietinBank giảm 0,12%/năm xuống 5,95%/năm, TPBank giảm 0,23%/năm xuống 9,13%/năm, GPBank giảm 0,47%/năm xuống 7,98%/năm, BaoViet Bank giảm 0,14%/năm xuống 7,27%/năm và PGBank giảm 0,33%/năm xuống 7,06%/năm.
Mức giảm mạnh nhất thuộc về MBV khi giảm 1,07%/năm xuống 6,78%/năm.
Trong khi đó, các ngân hàng như LPBank, Saigonbank và SCB giữ nguyên lãi suất cho vay bình quân so với tháng 1.
Đối với nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tháng 2/2026 của Agribank tăng 0,7%/năm so với tháng trước, lên mức 8,04%/năm. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động bình quân là 1,08%/năm.
Ngân hàng này cho biết chi phí vốn bình quân trong tháng 2 ở mức 6,96%/năm, trong đó lãi suất huy động bình quân là 4,85%/năm, còn lại là các chi phí như dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, bảo hiểm tiền gửi và chi phí hoạt động.
Agribank tiếp tục duy trì lãi suất 4%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn thuộc lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đối với cho vay thông thường, lãi suất ngắn hạn tối thiểu là 6,1%/năm và trung dài hạn tối thiểu 7,8%/năm.
Tại BIDV, lãi suất cho vay bình quân tháng 2/2026 tăng 0,39%/năm lên 6,14%/năm. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động là 2,75%/năm, còn sau khi trừ chi phí liên quan là 1,57%/năm.
Trong khi đó, lãi suất cho vay bình quân tại VietinBank là 5,95%/năm, giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng 0,71%/năm so với cuối năm 2025.
Vietcombank chưa công bố số liệu bình quân tháng 2, song đã thông báo lãi suất cơ sở cho vay trung dài hạn ở mức 5,9%/năm. Trước đó, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng này khoảng 6,1%/năm.
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mặt bằng lãi suất tiền gửi VND trong hệ thống ngân hàng dao động từ 0,1-0,2%/năm với kỳ hạn rất ngắn, và từ 3,9-6,9%/năm với các kỳ hạn dài hơn.
Lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay đang lưu hành phổ biến ở mức 7-9,3%/năm. Trong đó, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm, thấp hơn trần quy định 4%/năm.
Đối với các khoản vay bằng USD, lãi suất cho vay bình quân dao động trong khoảng 4-5,1%/năm. Những diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đang có sự phân hóa giữa các ngân hàng trong bối cảnh chi phí vốn và nhu cầu tín dụng tiếp tục biến động.
Trao đổi về xu hướng lãi suất, chuyên gia tài chính Hoàng Việt Anh cho rằng mặt bằng lãi suất huy động nhiều khả năng vẫn tiếp tục tăng nhẹ trong ngắn hạn, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài. Nguyên nhân đến từ nhu cầu vốn gia tăng, áp lực tỷ giá và cạnh tranh thanh khoản giữa các ngân hàng.
Tuy nhiên, theo vị chuyên gia, dư địa tăng mạnh không lớn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn định hướng giữ ổn định mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do đó, lãi suất có thể tiếp tục nhích lên nhưng chỉ mang tính cục bộ.
Bình luận về xu hướng lãi suất thời gian gần đây, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng đà tăng của lãi suất huy động xuất phát từ nhu cầu vốn gia tăng mạnh trong nền kinh tế. Theo ông, tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao so với định hướng cả năm, buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất để thu hút thêm nguồn tiền, đáp ứng nhu cầu cho vay.
Về trung hạn, các chuyên gia cho rằng diễn biến lãi suất trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào chính sách tiền tệ toàn cầu, đặc biệt là động thái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Nếu xu hướng nới lỏng quay trở lại, áp lực tăng lãi suất trong nước – bao gồm cả lãi suất cho vay – có thể giảm bớt trong thời gian tới.
Thiên Ân / Vietnamfinance.vn














