Cùng hoạt động trong bối cảnh thanh khoản thị trường cải thiện, nhưng kết quả kinh doanh của các công ty chứng khoán nửa đầu năm 2026 lại phân hóa rõ rệt.
Nhiều công ty chứng khoán chạm mốc 3.000 tỷ đồng lợi nhuận
Nửa đầu năm 2026 chứng kiến sự hình thành của nhóm dẫn đầu mới trên thị trường chứng khoán, khi TCBS, SSI và VPS đều ghi nhận lợi nhuận trước thuế xấp xỉ hoặc vượt 3.000 tỷ đồng.
TCBS đang tạm dẫn đầu nhóm công ty đã công bố BCTC bán niên với 3.555 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, hoàn thành 47% kế hoạch năm. Riêng quý II, công ty đạt doanh thu 3.745 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 2.097 tỷ đồng, tăng lần lượt 41% và 21% so với cùng kỳ.
Một trong những động lực chính của TCBS tiếp tục đến từ hoạt động cho vay. Tại ngày 30/6/2026, dư nợ cho vay ký quỹ và ứng trước tiền bán của công ty vượt 51.500 tỷ đồng, tăng 52% so với cùng kỳ.
Tỷ lệ cho vay trên vốn chủ sở hữu ở mức 1,13 lần, cho thấy công ty vẫn còn dư địa mở rộng so với giới hạn pháp lý. Bên cạnh margin, TCBS giữ thị phần lớn trong tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp và đứng trong nhóm ba công ty có thị phần môi giới cao nhất HoSE.
Theo sau là SSI với 3.122 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong sáu tháng, tăng 39% so với cùng kỳ và hoàn thành khoảng 53% kế hoạch năm. Doanh thu của công ty đạt 6.652 tỷ đồng, tăng 27%.
SSI đồng thời tiếp tục mở rộng quy mô bảng cân đối kế toán. Cuối tháng 6, tổng tài sản công ty mẹ đạt 95.237 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu lên gần 39.600 tỷ đồng. Dư nợ margin và ứng trước tiền bán đạt khoảng 40.500 tỷ đồng, thiết lập mặt bằng mới đối với doanh nghiệp này.
VPS đứng ngay phía sau với 2.925 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế sáu tháng. Riêng quý II, công ty đạt 2.354 tỷ đồng doanh thu và 1.378 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng lần lượt 37% và 57% so với cùng kỳ.
Khác với một số doanh nghiệp dựa nhiều vào danh mục tự doanh, lợi thế đáng chú ý của VPS nằm ở quy mô khách hàng cá nhân và vị trí dẫn đầu thị phần môi giới. Trong nửa đầu năm, thị phần môi giới cổ phiếu của công ty trên HoSE đạt 14,14%. Điều này tạo ra nguồn khách hàng lớn cho cả môi giới, cho vay ký quỹ và các sản phẩm tài chính đi kèm.

Sau nhóm dẫn đầu, VNDirect nổi lên với tốc độ phục hồi lợi nhuận cao. Công ty ghi nhận 1.787 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong sáu tháng, tăng 85% so với cùng kỳ và hoàn thành 59% kế hoạch năm. Riêng quý II, lợi nhuận trước thuế đạt 1.106 tỷ đồng, tăng 127%.
Kết quả này đưa VNDirect trở lại nhóm công ty có lợi nhuận lớn. Trong quý II, hoạt động liên quan tới tài sản tài chính FVTPL đóng góp đáng kể, bao gồm cả lãi bán tài sản và chênh lệch tăng do đánh giá lại danh mục. Điều này giúp lợi nhuận cải thiện nhanh khi thị trường thuận lợi, nhưng cũng khiến kết quả có thể biến động mạnh giữa các kỳ.
Nhóm có lợi nhuận trước thuế khoảng 600 – 800 tỷ đồng gồm MBS, HSC và Vietcap.
MBS đạt 2.215 tỷ đồng doanh thu và 745 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong nửa đầu năm, tăng lần lượt 52% và 22%. Công ty hoàn thành khoảng 40% mục tiêu lợi nhuận năm. Dư nợ margin tại cuối tháng 6 đạt 16.670 tỷ đồng, tăng hơn 1.800 tỷ đồng chỉ trong quý II và là mức cao nhất trong lịch sử hoạt động của MBS.
Danh mục FVTPL của MBS có giá trị khoảng 3.024 tỷ đồng nhưng chủ yếu là giấy tờ có giá và trái phiếu, giá trị cổ phiếu niêm yết chỉ khoảng 1 tỷ đồng. Cơ cấu này cho thấy MBS tăng trưởng nhờ cho vay và hoạt động sử dụng vốn nhiều hơn là đặt cược lớn vào biến động giá cổ phiếu.
HSC ghi nhận 2.452 tỷ đồng doanh thu và 704 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng lần lượt 44% và 35%. Cho vay ký quỹ mang về 1.532 tỷ đồng doanh thu, tăng 50% và trở thành nguồn đóng góp lớn nhất.
Kết quả của HSC diễn ra trong bối cảnh giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt gần 29.200 tỷ đồng mỗi ngày trong nửa đầu năm, tăng 38% so với cùng kỳ. Thanh khoản cao hơn vừa hỗ trợ doanh thu môi giới, vừa làm tăng nhu cầu sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư.
Vietcap đạt 2.582 tỷ đồng doanh thu, tăng 28%, và gần 675 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 19%. Dư nợ margin cuối tháng 6 đạt khoảng 16.646 tỷ đồng, gần tương đương MBS. Tuy nhiên, doanh nghiệp mới hoàn thành khoảng 29% mục tiêu lợi nhuận năm, thấp hơn tiến độ của nhiều công ty trong nhóm dẫn đầu.
Ở nhóm quy mô trung bình, SHS đạt 1.017 tỷ đồng doanh thu và 370 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Tổng tài sản tăng gần 20% so với cuối năm 2025, lên 27.567 tỷ đồng. Việc tài sản mở rộng nhanh tạo thêm nguồn lực kinh doanh, nhưng hiệu quả sử dụng lượng vốn mới sẽ cần được theo dõi trong các quý tiếp theo.
BSC ghi nhận 1.314 tỷ đồng doanh thu, tăng 56%, trong khi lợi nhuận trước thuế đạt gần 263 tỷ đồng, tăng 16%. Doanh thu từ FVTPL tăng 83% lên 576 tỷ đồng, còn lãi từ cho vay và phải thu tăng 61% lên 467 tỷ đồng. Tổng tài sản của BSC đạt gần 19.500 tỷ đồng, trong đó dư nợ margin khoảng 9.370 tỷ đồng.
FPTS đạt gần 688 tỷ đồng doanh thu và 290 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng lần lượt 25% và 12%, qua đó hoàn thành 53% kế hoạch lợi nhuận năm.
Danh mục tự doanh của FPTS có giá gốc gần 3.600 tỷ đồng nhưng phần lớn là trái phiếu và tiền gửi có kỳ hạn. Cổ phiếu niêm yết chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong khi đó, dư nợ margin đạt gần 5.970 tỷ đồng. Cơ cấu tài sản tương đối thận trọng giúp giảm mức độ nhạy cảm của lợi nhuận trước biến động ngắn hạn của thị trường cổ phiếu.
DSC ghi nhận doanh thu 333 tỷ đồng, tăng 29%, nhưng lợi nhuận trước thuế giảm 24% còn 93 tỷ đồng. Doanh thu môi giới và cho vay margin cùng tăng trên 30%, song mức tăng chi phí khiến lợi nhuận không đi cùng chiều với doanh thu. Dư nợ margin của công ty đạt gần 2.900 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn vốn bổ sung từ đợt tăng vốn trước đó.

Margin mở rộng, tự doanh tạo ra hai chiều lợi nhuận
Kết quả kinh doanh nửa đầu năm cho thấy cho vay ký quỹ đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của ngành chứng khoán.
TCBS dẫn đầu nhóm đã công bố BCTC bán niên với hơn 51.500 tỷ đồng dư nợ margin và ứng trước tiền bán, tiếp theo là SSI với gần 40.500 tỷ đồng. HSC cũng duy trì quy mô cho vay lớn, trong khi MBS và Vietcap cùng vượt 16.600 tỷ đồng. BSC, FPTS và DSC lần lượt ghi nhận dư nợ khoảng 9.370 tỷ đồng, 5.970 tỷ đồng và 2.900 tỷ đồng.
Bên cạnh margin, tự doanh tiếp tục là biến số tạo ra sự phân hóa lớn nhất về lợi nhuận.
Tại VNDirect, lãi bán tài sản và chênh lệch đánh giá lại FVTPL hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng quý II. Tại BSC, doanh thu FVTPL tăng hơn 80%, đóng góp gần một nửa doanh thu hoạt động trong sáu tháng. Ngược lại, những doanh nghiệp duy trì danh mục thiên về trái phiếu và giấy tờ có giá như MBS hay FPTS có mức độ nhạy cảm thấp hơn trước biến động giá cổ phiếu.
VIX là ví dụ rõ nét cho rủi ro này. Riêng quý II, doanh thu hoạt động của công ty đạt gần 1.349 tỷ đồng, giảm 32%, trong khi lợi nhuận sau thuế giảm gần 94% còn khoảng 76 tỷ đồng. Khoản lỗ từ tài sản FVTPL tăng lên 1.129 tỷ đồng, cao hơn hơn bốn lần cùng kỳ, bào mòn phần lớn doanh thu tự doanh ghi nhận trong kỳ.
Lũy kế sáu tháng, doanh thu của VIX vẫn đạt hơn 3.000 tỷ đồng, nhưng biến động trong quý II cho thấy lợi nhuận của mô hình tự doanh lớn có thể thay đổi nhanh khi thị trường đảo chiều hoặc dòng tiền chỉ tập trung vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn.
Như vậy, bức tranh nửa đầu năm 2026 vì vậy không chỉ là cuộc đua về quy mô lợi nhuận. Sự phân hóa còn nằm ở nguồn tạo lợi nhuận.
Những công ty sở hữu hệ sinh thái khách hàng lớn, nguồn vốn dồi dào và nhiều mảng kinh doanh như TCBS, SSI hay VPS đang có lợi thế trong việc phân bổ doanh thu giữa môi giới, margin, tự doanh và ngân hàng đầu tư. Trong khi đó, các doanh nghiệp quy mô trung bình phải lựa chọn giữa mở rộng cho vay, tăng tỷ trọng tự doanh hoặc phát triển một phân khúc khách hàng riêng để bảo vệ biên lợi nhuận.













