Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
Khi thách thức nhiều hơn cơ hội
Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) về tình hình doanh nghiệp quý I/2026, thị trường ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ của dòng doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập. Cụ thể, trong 3 tháng đầu năm có hơn 96.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Riêng số doanh nghiệp thành lập mới đạt hơn 57.400, tăng tới 57,8% – mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức lớn. Quý I/2026 có khoảng 91.800 doanh nghiệp rời thị trường, tăng 16,5% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn chiếm tới 69,1%, cho thấy phần lớn doanh nghiệp không rời bỏ hoàn toàn mà lựa chọn tạm “đóng băng” để tái cơ cấu và chờ cơ hội phục hồi.

Bình luận về thực trạng này, trao đổi với Đầu tư tài chính – VietnamFinance, bà Phí Hương Nga – Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng (Cục Thống kê), cho rằng việc đánh giá sức khỏe doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào các chỉ tiêu như doanh thu hay lợi nhuận, mà cần nhìn nhận toàn diện khả năng chống chịu và thích ứng trước biến động của môi trường kinh tế.
Theo bà Nga, số liệu thống kê cho thấy nhiều tín hiệu đáng lưu ý. Trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn – nhóm được kỳ vọng quay lại thị trường – chỉ tăng 3,3% trong 3 tháng đầu năm, thì số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể lại tăng tới 45%, và số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng gần gấp đôi, ở mức 99%. Điều này phản ánh áp lực sàng lọc ngày càng lớn trong khu vực doanh nghiệp.
Một điểm đáng chú ý khác là gần 40% doanh nghiệp trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ đang gặp khó khăn. Diễn biến này cho thấy khu vực thương mại chịu tác động rõ rệt từ sự thay đổi của xu hướng tiêu dùng, áp lực cạnh tranh gia tăng và sức cầu nội địa còn yếu.
Dù vậy, ở chiều tích cực, việc có tới khoảng 96.000 doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường vẫn cho thấy nền kinh tế đang diễn ra quá trình vận động và sàng lọc tự nhiên, đồng thời phản ánh khả năng thích ứng nhất định của cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động.
“Nhìn tổng thể, sức khỏe doanh nghiệp hiện nay là sự đan xen giữa khó khăn và cơ hội song thách thức vẫn chiếm ưu thế, nhưng nền tảng phục hồi chưa bị đứt gãy”, bà Nga khẳng định quan điểm.
Đồng quan điểm, trao đổi với VietnamFinance, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho biết tỷ lệ doanh nghiệp quy mô vừa tại Việt Nam hiện chỉ tương đương doanh nghiệp lớn, khoảng 1,5%. Trong khi đó, để một doanh nghiệp nhỏ phát triển lên quy mô vừa hoặc lớn thường mất từ 10 – 20 năm, khiến nền kinh tế đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lớp “doanh nghiệp kế cận” cho các doanh nghiệp lớn hiện nay.
Theo TS Lê Duy Bình, nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm suy giảm năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Quy mô nhỏ cũng hạn chế khả năng đầu tư vào công nghệ, quản trị hay hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) – những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn. Điều này khiến hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp khó được cải thiện trong dài hạn.
Phân tích bức tranh doanh nghiệp dưới góc nhìn cơ cấu nền kinh tế, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký VCCI, cho biết khu vực FDI vẫn giữ vai trò chi phối trong hoạt động xuất khẩu, khi đóng góp tới khoảng 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu trong quý I/2026 và hơn 77% trong năm 2025. Ngược lại, khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm chưa đầy 20% trong quý I năm nay và dưới 23% trong năm trước. Diễn biến này phản ánh sự chênh lệch ngày càng lớn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, đồng thời cho thấy không gian thị phần của khu vực tư nhân trong nước đang bị thu hẹp.
Theo ông Tuấn, nguyên nhân không chỉ nằm ở quy mô vốn mà còn xuất phát từ cấu trúc doanh nghiệp và tư duy đầu tư. Điểm hạn chế đáng chú ý là cơ cấu doanh nghiệp hiện nay thiếu cân đối, khi số lượng tập đoàn đủ sức dẫn dắt còn rất ít, trong khi phần lớn lại là doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Đáng lo ngại, phân khúc doanh nghiệp quy mô vừa – vốn giữ vai trò trung gian trong chuỗi cung ứng – lại đang thiếu hụt rõ rệt.
Ông nhấn mạnh, doanh nghiệp quy mô vừa là mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất, đóng vai trò nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2. Sự thiếu vắng lực lượng này khiến mối liên kết giữa các doanh nghiệp lớn với khu vực sản xuất nhỏ lẻ trở nên lỏng lẻo, làm giảm hiệu quả lan tỏa trong nền kinh tế.
Cần những cải cách mang tính đột phá về thể chế
Gần đây, khu vực kinh tế tư nhân đã có những nỗ lực nhằm hình thành chuỗi/mạng lưới liên kết theo ngành hoặc hệ sinh thái cung ứng sản phẩm – dịch vụ. Nhưng để doanh nghiệp nhỏ “vươn mình” thành doanh nghiệp vừa và lớn như trường hợp của Trường Hải (THACO) và Hoà Phát trong quá khứ, rất cần môi trường chính sách ổn định để họ có thể dự báo và cam kết dài hạn.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn và tạo động lực cho khu vực kinh tế tư nhân, trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, TS Nguyễn Sĩ Dũng, yêu cầu tiên quyết là phải có những cải cách mang tính đột phá về thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh. Ông cho rằng, nếu muốn kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực chủ lực của nền kinh tế, thì điểm khởi đầu không thể khác ngoài cải cách thể chế, bởi đây chính là “khuôn khổ” định hình toàn bộ hoạt động kinh tế. Một khi khuôn khổ này còn méo mó, thiếu minh bạch hoặc thiếu ổn định, khu vực tư nhân sẽ khó có thể phát triển lành mạnh và bền vững.
Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, trước hết cần bảo đảm một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch và ổn định. Điều này không chỉ dừng ở cải cách thủ tục hành chính mà còn phải kiểm soát tình trạng lạm quyền, loại bỏ cơ chế “xin – cho”, đồng thời bảo vệ thực chất quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp bằng pháp luật.
Bên cạnh đó, chính sách cần được thiết kế theo hướng thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là nền tảng để hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trọng tâm chính sách nên đặt vào hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải thiện khả năng tiếp cận vốn trung và dài hạn, cũng như mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Ông cũng nhấn mạnh, doanh nghiệp khó có thể lớn mạnh nếu hoạt động trong một môi trường thiếu hỗ trợ và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, cần xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh để hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển bền vững, từ giáo dục khởi nghiệp, dịch vụ pháp lý, logistics đến kết nối với các viện nghiên cứu và trường đại học.
Quan trọng hơn, vai trò của Nhà nước cần được tái định vị theo hướng chuyển từ “can thiệp” sang “kiến tạo phát triển”. Khi Nhà nước thực hiện đúng vai trò thiết kế thể chế và tạo lập môi trường thuận lợi, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, qua đó đóng góp hiệu quả hơn vào tăng trưởng và mục tiêu thịnh vượng của nền kinh tế.
Ở góc nhìn so sánh quốc tế, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản trong giai đoạn “cất cánh” từ năm 1955 đến 1973 là một mô hình đáng để Việt Nam tham khảo.
Theo đó, Chính phủ Nhật Bản đã thiết lập nhiều cơ chế, tổ chức hỗ trợ nhằm tháo gỡ các rào cản lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), đặc biệt là tình trạng thiếu nguồn lực, khó tiếp cận tín dụng và hạn chế trong việc thu thập, phân tích thông tin thị trường. Song song với đó, nước này cũng thúc đẩy quá trình hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn thông qua việc sáp nhập, hợp nhất giữa các công ty.
Một điểm đáng chú ý là mô hình liên kết theo chuỗi giữa nhà sản xuất, nhà cung ứng và nhà phân phối (keiretsu dọc). Cách tổ chức này giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội tiếp cận công nghệ, học hỏi kinh nghiệm quản trị từ các doanh nghiệp lớn, từ đó củng cố năng lực và tích lũy nguồn lực để phát triển. Đến năm 1973, khoảng 59% SMEs trong lĩnh vực chế tạo của Nhật Bản đã tham gia vào các mạng lưới keiretsu.
Kỳ Thư / Vietnamfinance.vn













