Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm, hạ lãi suất cho vay từ 1,5-2%/năm; kiểm soát nợ xấu và rủi ro tín dụng.
Ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành văn bản về việc triển khai các giải pháp hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Theo đó, NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện nghiêm các quy định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN về lãi suất; tập trung mọi nguồn lực, tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để giảm mặt bằng lãi suất.
Trước mắt, điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tuyệt đối không đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh, gây bất ổn đến an ninh tài chính tiền tệ; giảm lãi suất cho vay khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Bên cạnh đó, các TCTD cần thực hiện các giải pháp để tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng nguồn vốn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng kinh tế; cấp tín dụng liên quan đến triển khai các công trình, dự án trọng điểm, khả thi phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và các ngành, lĩnh vực cần khuyến khích theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giáo dục đào tạo, công nghiệp văn hóa,…); tăng cường hợp vốn để cấp tín dụng đối với các dự án lớn; tuyệt đối không hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng, không đánh đổi chất lượng tín dụng để tăng quy mô tín dụng.
Đảm bảo phát triển hài hòa, cân đối giữa huy động vốn với tín dụng. Thường xuyên rà soát cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền, kỳ hạn, đa dạng hóa kênh huy động; kiểm soát rủi ro thanh khoản và mất cân đối kỳ hạn thông qua việc kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn; đồng thời, tăng cường tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn để bảo đảm cân đối bền vững giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.

Thường xuyên rà soát, tổ chức kiểm tra, kiểm toán các quy định nội bộ và sản phẩm tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định, xác minh thực chất nhu cầu vốn của khách hàng; kịp thời phát hiện, xử lý trường hợp khách hàng cung cấp thông tin không trung thực hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích.
Kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, các khách hàng, nhóm khách hàng có dư nợ lớn.
Trong đó, chú trọng theo dõi, đánh giá mức độ rủi ro tập trung tín dụng lớn tại các nhóm khách hàng và người có liên quan, cơ cấu tín dụng theo khách hàng, các dự án có quy mô lớn; lưu ý các nhóm khách hàng có một hoặc một số dấu hiệu như: cùng người quản lý hoặc đại diện theo pháp luật hoặc người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của khách hàng, chung tài sản bảo đảm (TSBĐ), chung một chủ sở hữu TSBĐ, tập trung vốn vào cùng một dự án, có chung nguồn trả nợ; đa dạng hóa danh mục tín dụng; kết hợp đánh giá các chỉ báo liên quan đến diễn biến giá bất động sản, thanh khoản thị trường, tồn kho dự án và tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp để sớm nhận diện các vi phạm, tồn tại và rủi ro tiềm ẩn, từ đó kịp thời có các giải pháp, biện pháp kiểm soát, xử lý phù hợp.
Kiểm soát rủi ro, siết chặt hoạt động mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ
NHNN cũng yêu cầu hoạt động mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính TCTD phát hành (sau đây gọi tắt là mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ) phải được kiểm soát rủi ro tương tự hoạt động cấp tín dụng khác; thực hiện đánh giá đầy đủ bản chất giao dịch, đối tác, nguồn thanh toán, dòng tiền và các yếu tố liên quan để nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro. TCTD kiểm soát tăng trưởng tín dụng không vượt quá mức dư nợ tín dụng tối đa năm 2026 đã được NHNN thông báo trừ đi số dư của các khoản mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ phát sinh trong năm 2026.
Tăng cường kiểm soát chất lượng thẩm định, phê duyệt tín dụng và quản lý TSBĐ, đặc biệt kiểm soát việc thẩm định, đánh giá lại làm tăng giá trị TSBĐ trong giai đoạn hiện nay, rà soát bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật và quy định nội bộ về nhận, định giá, quản lý và xử lý TSBĐ. Thực hiện định giá TSBĐ sát với giá trị thị trường, thường xuyên cập nhật, đánh giá lại giá trị TSBĐ; xác định tỷ lệ cấp tín dụng trên giá trị TSBĐ phù hợp với mức độ rủi ro và đặc điểm, khả năng thanh khoản của từng loại TSBĐ. Theo dõi chặt chẽ tình trạng và giá trị TSBĐ trong quá trình quản lý khoản vay, kịp thời có biện pháp bổ sung, điều chỉnh hoặc xử lý khi giá trị TSBĐ suy giảm, bảo đảm khả năng thu hồi nợ và hạn chế tổn thất khi phát sinh rủi ro; chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xử lý TSBĐ và thu hồi nợ.
Các TCTD cũng cần theo dõi sát diễn biến các nhóm nợ nhất là nợ nhóm 2 và nợ xấu; tăng cường theo dõi, quản lý các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro, nợ ngoại bảng và các khoản nợ đã cơ cấu, cơ cấu lại thời hạn trả nợ; thường xuyên đánh giá khả năng phục hồi của khách hàng, kịp thời cập nhật mức độ rủi ro và có biện pháp kiểm soát phù hợp nhằm kịp thời xử lý, thu hồi các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn, ngăn ngừa nguy cơ chuyển thành nợ xấu; đặc biệt lưu ý một số TCTD có quy mô và tốc độ gia tăng nợ xấu ở mức cao cần theo dõi, quản lý chặt chẽ các khoản cấp tín dụng, chủ động rà soát, đánh giá nguyên nhân nợ xấu tăng cao để có các giải pháp xử lý kịp thời nhằm kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động của TCTD.
Kiểm soát chặt chẽ các khoản lãi dự thu, nhất là các khoản có giá trị lớn, kéo dài hoặc tiềm ẩn khó thu hồi; thực hiện ghi nhận, hoạch toán lãi dự thu, thoái các khoản lãi dự thu đúng quy định pháp luật và chỉ đạo của NHNN, đồng thời yêu cầu thực hiện kiểm soát việc chia cổ tức, phân chia lợi nhuận bảo đảm kết quả kinh doanh phản ánh thực chất tình hình hoạt động của TCTD…
Mai Anh / Vietnamfinance.vn











