Dù nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất huy động niêm yết về quanh 6%/năm, các gói ưu đãi dành cho khách hàng vẫn có thể lên tới 9%/năm.
Tại một ngân hàng tư nhân có vốn điều lệ hơn 100.000 tỷ đồng, biểu lãi suất tiết kiệm tại quầy áp dụng từ ngày 26/10 đối với khách hàng gửi từ 1–3 tỷ đồng là 5,75%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 5,95%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
Tuy nhiên, nhân viên ngân hàng giới thiệu mức lãi suất 8,5–8,7%/năm cho khoản tiền gửi cùng quy mô, kèm chính sách ưu đãi dành cho khách hàng ưu tiên. Với khoản tiền gửi trên 3 tỷ đồng, mức lãi suất được tư vấn có thể lên tới 8,8–8,9%/năm.
Tại một ngân hàng khác, ứng dụng ngân hàng hiển thị mức lãi suất tiết kiệm lên tới 9%/năm đối với kỳ hạn 6 tháng và 9,22%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng, không giới hạn số tiền gửi. Trong khi đó, lãi suất niêm yết công khai tương ứng chỉ ở mức 5,7% và 5,9%/năm. Chênh lệch giữa hai mức lãi suất lần lượt là 3,3 và 3,32 điểm phần trăm/năm.

Sự khác biệt này cho thấy lãi suất niêm yết chưa phản ánh đầy đủ mọi mức lãi suất mà khách hàng có thể được giới thiệu trên thị trường. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác, cần làm rõ điều kiện áp dụng, sản phẩm tiền gửi và chính sách ưu đãi đi kèm, đồng thời phân biệt giữa lãi suất được quảng bá, lãi suất thực tế áp dụng và lãi suất huy động bình quân của ngân hàng.
Trong phân tích thị trường tiền gửi tháng 10/2026, Chứng khoán Phú Hưng (PHS) cũng ghi nhận sự phân hóa giữa biểu lãi suất niêm yết và các chương trình huy động đặc biệt. Theo PHS, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm tại ngày 20/9, trong khi một số chương trình huy động có mức lãi suất lên tới 8,9–9,8%/năm.
Diễn biến này cho thấy, bên cạnh mặt bằng lãi suất công khai, các ngân hàng vẫn có thể sử dụng những chương trình huy động riêng để thu hút nguồn vốn. Vì vậy, việc đánh giá xu hướng lãi suất cần dựa trên cả biểu niêm yết và chi phí huy động thực tế, thay vì chỉ quan sát mức điều chỉnh công khai.
Áp lực chi phí vốn và dư địa giảm lãi suất cho vay
Ngày 21/10/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Công văn số 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu các ngân hàng thương mại triển khai quyết liệt việc giảm thực chất lãi suất huy động và cho vay trên tất cả các kênh bán hàng.
Theo yêu cầu này, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên phải giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm trong những tháng cuối năm 2026 so với mức của chính ngân hàng tại kỳ báo cáo từ ngày 11–20/10/2026.
Việc NHNN nhấn mạnh lãi suất bình quân của các giao dịch phát sinh mới cho thấy mục tiêu điều hành không chỉ là giảm lãi suất trên biểu niêm yết, mà còn hướng tới mức giảm thực tế trong hoạt động huy động vốn. Nếu lãi suất công khai đi xuống nhưng các chương trình ưu đãi vẫn duy trì ở mức cao, chi phí huy động bình quân có thể giảm chậm hơn kỳ vọng.
Lãi suất huy động là một trong những yếu tố cấu thành chi phí vốn của ngân hàng. Khi các tổ chức tín dụng vẫn phải duy trì mức lãi suất cao để thu hút tiền gửi, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế. Điều này đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế còn lớn, trong khi doanh nghiệp vẫn cần tiếp cận nguồn tín dụng với chi phí hợp lý để duy trì sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư.
Theo phân tích của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lãi suất huy động có thể giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm, nhưng khó giảm sâu trong năm 2027 do chênh lệch giữa huy động vốn và tín dụng vẫn lớn.
Đến ngày 14/10, tăng trưởng huy động vốn đạt 11,22%, bám sát mức tăng trưởng tín dụng 11,44%. Nhờ đó, chênh lệch quy mô huy động và tín dụng thu hẹp từ mức đỉnh khoảng 2,8 triệu tỷ đồng giữa năm xuống còn khoảng 2,35 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, khoảng cách này vẫn tương đương mức đầu năm 2026 và gấp đôi đầu năm 2025.
Khoảng cách giữa huy động và tín dụng cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn vẫn hiện hữu. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh, các ngân hàng cần duy trì khả năng thu hút tiền gửi để đáp ứng nhu cầu cho vay, qua đó có thể phải cạnh tranh về lãi suất ở một số phân khúc khách hàng.
Vì vậy, việc giảm lãi suất cho vay bền vững không chỉ phụ thuộc vào điều chỉnh lãi suất niêm yết, mà còn gắn với khả năng kiểm soát chi phí huy động, cân đối nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của từng ngân hàng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để yêu cầu giảm mặt bằng lãi suất của cơ quan điều hành chuyển hóa thành mức giảm chi phí vay thực tế cho doanh nghiệp và người dân.
PV / Vietnamfinance.vn











