Dự án thành phần 2 cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột đang bị chậm trễ về cả tiến độ thi công và tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư. Do đó, chủ đầu tư và nhà thầu cần nỗ lực, tăng tốc mới có thể hoàn thành công trình vào cuối năm nay theo đúng kế hoạch.
Hầm Phượng Hoàng dài 1,7 km – là hầm cấp đặc biệt và dài nhất trong số 4 hầm trên toàn tuyến của dự án – Ảnh: Báo Gia Lai
Trong báo cáo về tình hình thực hiện Dự án thành phần 2 cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột (giai đoạn 1), theo ông Ngô Lâm, Phó Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, đến nay, dự án đã hoàn thành khoảng 78,92% khối lượng theo hợp đồng, đang chậm khoảng 2,24% so với kế hoạch hoàn thành năm 2026; tỷ lệ giải ngân năm 2026 đạt 18,5% còn thấp hơn so với tỷ lệ bình quân cả nước.
Tỉ lệ giải ngân rất thấp
Dự án đã cơ bản thông xe kỹ thuật được 35,3/37km tuyến cao tốc, tuy nhiên, Cục Đường bộ Việt Nam đánh giá vẫn còn nhiều nội dung, hạng mục chưa hoàn thành, chậm trễ về tiến độ như: mặt đường bê tông xi măng trong ống hầm trái; mái cơ sân hầm phía Tây và Đông; bản mặt cầu và bờ bo; dải phân cách cầu Cư San 9; bê tông nhựa phạm vi phần tuyến (khoảng 6km) và các cầu còn lại thuộc Gói thầu XL01.
Các hạng mục hầm Phượng Hoàng và cầu Cư San 9 thuộc gói thầu XL01; cầu Km44+875 thuộc gói thầu XL02; cầu Km62+525 thuộc gói thầu XL03 và hạng mục bê tông nhựa thuộc gói thầu XL02, XL03 vẫn là điểm nghẽn của dự án.
Cụ thể, đối với hầm Phượng Hoàng, hiện nhà thầu thi công đã hoàn thành hạng mục vỏ ống, hệ thống thoát nước hầm trái, đang triển khai thi công ống hầm phải. Trong khi đó, khối lượng còn lại của hầm này phải hoàn thành trong năm 2026 rất lớn, đặc biệt là hạng mục ống hầm phải, mới thi công được 244/1.700m (đạt 14,35%).
Để hoàn thành khối lượng vỏ hầm phải còn lại cần thời gian 82 ngày (tương ứng 2,8 tháng); tính theo tiến độ nêu trên, Cục Đường bộ Việt Nam nhận định tiến độ hoàn thành vỏ hầm phải sẽ rơi vào cuối tháng 12/2026, thi công các hạng mục phụ trợ còn lại của hầm Phượng Hoàng (cơ điện, phòng cháy chữa cháy, mặt đường hầm) sẽ phải rơi vào thời điểm quý I/2027.
Cục Đường bộ Việt Nam cũng chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến dự án chậm tiến độ là do khó khăn đối với nguồn vật liệu đá bê tông nhựa; thiếu hụt nhân công; thời tiết bất lợi; một số nhà thầu còn chưa huy động đầy đủ nhân sự, máy móc, thiết bị.
Dự án gặp khó khăn với nguồn cung vật liệu đá làm hạng mục bê tông nhựa, do các mỏ đặc thù cấp cho dự án hiện nay đang còn hạn chế về các chỉ tiêu kỹ thuật áp dụng cho đá bê tông nhựa; đồng thời, các mỏ thương mại có trữ lượng thấp, công suất khai thác còn hạn chế.
Chủ đầu tư đã báo cáo UBND tỉnh Đắk Lắk chấp thuận bổ sung mỏ đá Cư Yang, 6B nhưng vẫn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu do: dây chuyền sản xuất thường xuyên hư hỏng, phải sửa chữa và thay thế, ảnh hưởng thời tiết bất lợi; công tác tập kết của các nhà thầu còn chậm ảnh hưởng đến công tác thi công hạng mục bê tông nhựa.
Cầu Cư San 9 đã hoàn thành lao lắp dầm, nhà thầu đang thi công hoàn thiện bản mặt cầu – Ảnh: Báo Gia Lai
Tăng máy móc, nhân lực và chủ động tìm nguồn vật liệu
Để đảm bảo tiến độ theo yêu cầu, Cục Đường bộ Việt Nam đề nghị Ban Quản lý dự án đường sắt (chủ đầu tư) chỉ đạo nhà thầu thi công khẩn trương tập trung máy móc, thiết bị, nhân lực đẩy nhanh tiến độ thi công vỏ hầm phải; bổ sung nhân công hoàn thành hạng mục vòm ngược hầm phải phía cửa Tây trước ngày 15/10/2026 làm công địa triển khai ngay mũi thi công vỏ hầm; bổ sung nhân công, xe vận chuyển, máy bơm bê tông để đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục nền đường, gia cố taluy phía cửa Đông và cửa Tây; triển khai thi công ngay các hạng mục cơ điện, chiếu sáng,… trong phạm vi ống hầm trái hiện nay đã có công địa.
Về cầu Cư San 9 (thuộc gói thầu XL01) và cầu Km44+875 (thuộc gói thầu XL02), cầu Km62+525 (thuộc gói thầu XL03), các nhà thầu tăng cường nhân công, bổ sung máy móc tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công hạng mục bờ bo lan can và dải phân cách; thi công hoàn thành bê tông bản mặt cầu.
Liên quan đến nguồn vật liệu cung cấp cho dự án, Cục Đường bộ Việt Nam đề nghị Ban Quản lý dự án Đường sắt tiếp tục chỉ đạo các nhà thầu thi công khẩn trương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan tiếp tục chủ động tìm kiếm các nguồn vật liệu đá bê tông nhựa trên địa bàn và khu vực lân cận đáp ứng yêu cầu về chất lượng; có các giải pháp tăng ca, bổ sung dây chuyền để đẩy nhanh tiến độ khai thác, sản xuất và tập kết vật liệu đá bê tông nhựa đối với các mỏ đá đặc thù cấp cho dự án; các nhà thầu khẩn trương đẩy nhanh công tác tập kết vật liệu về hiện trường, triển khai ngay công tác thi công hạng mục bê tông nhựa đảm bảo tiến độ của dự án theo yêu cầu.
Với tỷ lệ giải ngân của dự án còn rất thấp, Ban Quản lý dự án Đường sắt chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ thi công, thanh toán các khối lượng hoàn thành khi đủ điều kiện để kịp thời giải ngân nguồn vốn được giao theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính; trong đó tập trung đẩy nhanh các hạng mục có khối lượng lớn trong thời gian tới (hạng mục bê tông nhựa, an toàn giao thông và thiết bị của các hầm, hạng mục bê tông vỏ hầm Phượng Hoàng).
“Việc đẩy mạnh tiến độ giải ngân phải gắn với bảo đảm chất lượng công trình, dự án, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí, vi phạm quy định pháp luật,” Cục Đường bộ Việt Nam yêu cầu.
Đối với hệ thống giám sát điều hành giao thông, Ban Quản lý dự án Đường sắt khẩn trương lập kế hoạch tổng thể, chi tiết, hoàn thiện các thủ tục cần thiết để triển khai đầu tư đồng bộ công trình thuộc hệ thống giám sát, điều hành giao thông tuân thủ quy định, đảm bảo hiệu quả đầu tư và đồng bộ khi đưa dự án vào hoàn thành, khai thác.
Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột tổng chiều dài 117,5km, qua 2 tỉnh Khánh Hòa (khoảng 32,7km) và tỉnh Đắk Lắk (khoảng 84,8km) với quy mô 4 làn xe.
Dự án có tổng mức đầu tư là 21.935 tỷ đồng, được chia làm 3 dự án thành phần gồm Khánh Hòa làm cơ quan chủ quản Dự án thành phần 1 với 5.632 tỷ đồng; Bộ Giao thông Vận tải (nay là Bộ Xây dựng) làm cơ quan chủ quản Dự án thành phần 2 nguồn vốn 9.818 tỷ đồng; tỉnh Đắk Lắk làm cơ quan chủ quản Dự án thành phần 3 với số vốn là 6.485 tỷ đồng.
Trước đó, dự án này đã được thông xe, đưa vào khai thác 20km cao tốc vào cuối tháng 5/2025, các đoạn tuyến còn lại sẽ cơ bản hoàn thành toàn tuyến năm 2026 và hoàn thành đưa vào khai thác đồng bộ toàn dự án năm 2027.
Khi hoàn thành, tuyến cao tốc sẽ rút ngắn quãng đường kết nối Khánh Hòa và Đắk Lắk từ gần 200km xuống còn khoảng 117km, tạo bước đột phá về liên kết vùng giữa Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Đây cũng được kỳ vọng trở thành tuyến cao tốc “rừng – biển” đầu tiên của Việt Nam, mở ra không gian phát triển mới về logistics, du lịch và kinh tế cho toàn khu vực.
Phan Trang / Báo Chính Phủ











